Điệu khèn trên sóng đá

Điệu khèn trên sóng đá

(DTTG) Từ bao đời nay, chiếc khèn đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Mông. Nó là máu thịt, là tiếng nói tâm linh, là phương tiện truyền tải niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Hơn nữa, nhạc cụ này còn là sợi dây gắn kết vững chắc giữa các thành viên trong gia đình, trong dòng tộc và trong mỗi bản làng.

Đăng bởi T.Thành  Thứ tư, 16/02/2022 19:00

Sự tích khèn Mông

Đối với cộng đồng người Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn, khèn là loại nhạc cụ giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa cũng như đời sống tinh thần. Nó được sử dụng trong những dịp trọng đại như mừng một sinh linh ra đời hay tiễn đưa một người già hết cõi. Và đặc biệt nó được dùng nhiều nhất trong những ngày hội truyền thống như lễ, tết, hò hẹn bạn tình hay cưới hỏi. Có thể nói vòng đời của mỗi người Mông gắn chặt với cây khèn, từ lúc chào đời cho tới khi nằm xuống.

Thế nên, người già ở Hà Giang, miền đất tột Bắc này bảo rằng, đã là trai người Mông, thì khi biết cầm con dao, cái cuốc lao động trên nương trên rẫy, cũng là lúc họ phải biết cầm khèn. Bởi đối với họ, thổi khèn không đơn giản là một phương tiện giải trí, mà chính là đem tài nghệ của mình, và thông qua tiếng khèn - những chàng trai Mông sẽ tìm được “một nửa” của mình.

Chính vì thế mà từ xa xưa, cây khèn được xem là biểu tượng, là chuẩn mực của một người thanh niên Mông kiên cường, hào hoa. Dù đi đám cưới, đi chợ, đi đám ma hay đi lễ hội, thứ không thể thiếu trong tay họ chính là chiếc khèn.

Xét ở một khía cạnh nào đó, khèn Mông được xem như là tổng hợp của nhiều loại nhạc cụ. Nghe thanh âm của nó, người ta thấy du dương, trong trẻo của tiếng sáo, tiếng tiêu, và thấy cả tiếng trầm ấm của tiếng ống bầu.

Cấu tạo của khèn Mông có 6 ống làm từ trúc, được gắn trên 1 cái bầu bằng gỗ khoét rỗng, kết nối bằng nhựa cây và vỏ cây đào rừng. Thứ duy nhất trong nhạc cụ này được làm bằng kim loại là lam đồng hay còn gọi là lưỡi gà.

Bộ phận bầu trong khèn Mông thường được làm từ loại gỗ thông như thông đá, kim giao hoặc pơ mu. Chế tác khèn cũng vô cùng độc đáo, không có quy chuẩn chung. Các nghệ nhân làm khèn đều đo bằng tay, ngắm bằng mắt để chế tác, không có nguyên tắc chung nhưng để có được cây khèn ưng ý, thổi được đúng các làn điệu dân ca Mông, cần sự khéo léo, kiên nhẫn và kinh nghiệm.

Ông Giàng A Chứ: “Khèn là “linh hồn” trong các nhạc cụ của người Mông”
Ông Giàng A Chứ: “Khèn là “linh hồn” trong các nhạc cụ của người Mông”

Ông Giàng A Chứ (SN 1964, ở Thèn Pả, Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang), người được tấn phong là Thần khèn trên ải Bắc, chia sẻ, từ nhỏ ông đã được người già kể về sự tích của cây khèn Mông. Sự tích đó kể rằng, từ thuở xa xưa, một gia đình nọ có 6 người con trai, ai cũng hát hay và thổi sáo giỏi. Khi họ cùng nhau thổi, tiếng sáo cất lên vi vút như cây rừng gặp gió, véo von như chim trên cành và rì rào như suối reo, ào ạt như thác đổ.

Đến khi mấy anh em đều trưởng thành và lập gia đình riêng, không mấy khi tập hợp đủ cả 6 người, thế là tiếng sáo trở nên rời rạc, lạc điệu. Thấy vậy họ đã bàn nhau chế tác ra một loại nhạc cụ làm sao tích hợp được thế mạnh, sở trường của cả 6 người. Người anh cả nghĩ ra cái bầu, anh thứ hai nghĩ ra ống thổi dài, 4 người còn lại nghĩ ra những ống thổi tiếp theo. Tất cả là 6 ống, thay cho 6 anh em.

Lạ thay, thứ nhạc cụ lạ lùng ấy khi hoàn thiện, thổi lên lại tạo ra nhiều tầng âm thanh có sức quyến rũ lạ kỳ. Và đó cũng là nguồn gốc sâu xa của chiếc khèn Mông ngày nay.

Cũng theo ông Chứ thì còn có một vài dị bản khác về sự ra đời của cây khèn. Ví dụ như có dị bản lại kể rằng có một đôi vợ chồng sinh được 6 người con trai. Trong một lần đi nương, hai vợ chồng không may bị lũ cuốn trôi đi mất. 6 người con ở nhà chờ mãi không thấy bố mẹ về thì chia nhau ra đi tìm. Sau biết được bố mẹ mình đã bị lũ ác cuốn đi, mấy anh em hết sức đau lòng.

Suốt 9 ngày 9 đêm sau đó, 6 người con khóc lóc thảm thiết. Khi giọng đã khản đặc, họ vào rừng lấy ống trúc về thổi thay cho tiếng khóc. Cảm động về tình cảm của những người con hiếu thảo, Thần núi đã ban tặng cho họ bí quyết để họ làm nên chiếc khèn có sáu ống nứa dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho độ tuổi của sáu anh em. Từ đó, cây khèn giúp họ gửi gắm lời yêu thương và làm vơi bớt nỗi khổ đau vì mất cha mất mẹ.

Dù những truyền thuyết có khác nhau về các chi tiết, nhưng đều phản ánh những giá trị cốt lõi của chiếc khèn, nó tượng trưng cho lòng hiếu thảo, tình cảm gia đình, sự kết nối cộng đồng. Hơn thế nữa, truyền thuyết cũng lý giải về chức năng ban đầu với tư cách là nhạc khí thiêng bên cạnh chức năng giải trí đại chúng của khèn.

Ông Chứ và con gái biểu diễn một tiết mục khèn ở phố cổ Đồng Văn (Hà Giang)
Ông Chứ và con gái biểu diễn một tiết mục khèn ở phố cổ Đồng Văn (Hà Giang)

Nghề khèn cũng lắm công phu

Ông Chứ bảo, để thổi được khèn Mông không khó, cái khó là làm sao truyền tải được tình cảm, tâm trạng của mình vào mỗi điệu khèn. Một người thổi khèn giỏi thì chỉ cần nghe giai điệu, người ta cũng biết được họ đang vui, buồn hay sầu khổ. Người thổi khèn có thể tạo tác ra âm thanh trầm vút, bay bổng, cũng có thể thổi ra những điều trầm buồn, ai oán tùy theo những bài khèn mà họ học được, được truyền dạy từ nhiều đời. Và ở mỗi không gian trình diễn khác nhau, tiếng khèn cũng khác. Tang ma thê thiết, gọi bạn da diết, còn lễ hội thì tưng bừng, dồn dập.

Và đặc biệt, một người được xem là hay khèn còn phải biết múa khèn. Đó có thể xem là kỹ thuật khó nhất của “nghề” khèn. Bởi nó đòi hỏi người sử dụng phải kết hợp nhuần nhuyễn nhiều kỹ năng. Động tác múa của khèn rất đa dạng, phong phú, như múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo 4 hướng, mỗi bước tiến, bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia.

Động tác cơ bản nhất của múa khèn là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn, rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc với tốc độ càng nhanh thì càng điêu luyện. Vũ điệu và âm thanh hòa quyện với nhau giúp cho người ta thưởng thức được cùng một lúc cả âm lẫn hình.

“Cái khó nhất là vừa phải ngậm khèn để thổi, vừa thực hiện những điệu nhảy, điệu múa xoay vòng liên tục mà tiếng khèn không chùng, không căng ngoài ý muốn, không bị lạc nhịp mới là điều quan trọng. Trong tất cả những bước nhún nhảy, quay người hoặc lăn mình trên đất người nghệ nhân vẫn ôm khèn thổi với nhiều giai điệu khác nhau. Điều đó nó thể hiện kỹ thuật điêu luyện, sự tinh tế và tài tình của người thổi. Vì vậy, người thổi và múa khèn phải có lòng kiên trì và lòng đam mê cháy bỏng”, ông Chứ chia sẻ.

Thế nên, muốn trở thành một người thổi khèn giỏi, thông thường người con trai Mông phải tập khèn từ 13 - 14 tuổi để có thân hình mềm dẻo, nhịp nhàng và quan trọng hơn cả là rèn khí để hơi được sâu, được dài. Động tác khó nhất khi múa khèn là vừa ôm khèn vừa lăn mình, nhảy điệu “đá gà”, “đá ngựa” mà tiếng khèn vẫn không dứt. Để biểu diễn được những động tác này với khoảng trên dưới 30 khúc nhạc, đòi hỏi người chơi phải mất rất nhiều công tập luyện và không phải ai cũng có thể làm được…

Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của nhiều dân tộc khác, khèn Mông đã và đang phải đối mặt với nguy cơ mai một. Những người cao tuổi thì già yếu, còn thế hệ trẻ thì mê mẩn với các dòng nhạc hiện đại, ít người đủ kiên trì để theo học chế tác và sử dụng khèn.

Đứng trước tình trạng đó, nhằm giữ gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông nói riêng và các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn nói chung, chính quyền một số huyện ở Hà Giang đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp. Trong đó nổi bật là cho khôi phục một số lễ hội, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch. Vừa giữ gìn được văn hóa, vừa từng bước xóa đói giảm nghèo.

Được sự hỗ trợ của chính quyền, nhiều tổ hợp tác sản xuất khèn Mông ra đời, nhiều lớp truyền dạy làm khèn được mở ra đã thu hút được không ít người trẻ tham gia. Như ở Đồng Văn, huyện còn phối hợp với các Trung tâm học tập cộng đồng tổ chức truyền dạy nghề làm khèn cho học viên.

Tiếng khèn tỏ tình ngày Xuân
Tiếng khèn tỏ tình ngày Xuân

Tại những lớp học này, ngoài cách làm khèn, nhiều làn điệu dân ca của người Mông cũng được các nghệ nhân có kinh nghiệm sưu tầm và truyền dạy. Đây là các làn điệu thể hiện những suy tư, triết lý về tự nhiên, xã hội và khơi dậy tâm hồn, tình cảm, lý tưởng thẩm mỹ về tính cách dân tộc bằng âm thanh, nhịp điệu, giai điệu qua mỗi âm điệu, ca từ...

Cũng từ những lớp học như thế, đã xuất hiện rất nhiều những em có năng khiếu về âm nhạc. Rồi đây, những gương mặt này sẽ thay thế người già giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc.

Ông Chứ tâm sự: “Đối với người Mông, cây khèn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không chỉ là một nhạc cụ đơn thuần, mà còn là phương tiện giao tiếp của con người với thế giới tâm linh, là tâm hồn, bản sắc của dân tộc Mông. Giờ thấy lớp trẻ có nhiều người học, chúng tôi vui lắm. Bởi như thế sẽ không lo một nét văn hóa của tổ tiên bị thất truyền, mai một”.

T.Thành

  • ma code

CƠ QUAN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Giấy phép số: 36/GP-CBC do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 20/5/2021
Tổng Biên tập: NGUYỄN MẠNH HỒNG
Trụ sở 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội ĐT:024.3824.7204 - 0243.7379.192
Bản quyền thuộc về Báo Công lý. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.


Liên hệ Tòa soạn:
ĐT: 0243.9360.062 - 0243.7379.192
Email: phapluatdttg@gmail.com
Hotline: 0912.985.100